foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non

+84 0393.885.129
khoasp.thmn@htu.edu.vn
Liên hệ



VỚI HỘI HOẠ, MÀU SẮC KHÔNG PHẢI LÀ MÀU SẮC

                                                            CN. Nguyễn Thị Phú

           TÓM TẮT

           Sự hiện diện của màu sắc trong cuộc sống thường được coi là điều hiển nhiên. Tuy nhiên với hội hoạ, màu sắc là sức mạnh, sự hiện diện của màu sắc không chỉ là công cụ để cho các hoạ sĩ diễn đạt ý tưởng, mô phỏng thiên nhiên, mà hơn thế, màu sắc còn là nơi một hoạ gia tài năng được quyền biểu đạt những thứ kỳ diệu trong cuộc sống.

           Màu sắc là sự sống!

           Hãy bắt đầu vấn đề bằng một câu hỏi đơn giản: Giả sử đôi mắt của bạn bỗng nhiên chỉ có thể nhìn được hai màu đen và trắng, bạn sẽ cảm thấy như thế nào? Hoa cúc không còn có màu vàng, quả cà chua không còn mang sắc đỏ, và bầu trời không còn xanh, liệu rằng thế giới quan của bạn có còn những cung bậc, hay sẽ chỉ giống như một cây đàn piano chỉ có một phím duy nhất? Nếu vậy ai sẽ là người tạo ra cho con người những tuyệt tác nghệ thuật để đời?

       Có lẽ, thế giới này sẽ không còn là thế giới nếu không có màu sắc. Màu sắc ư? Chẳng phải là một món quà mà cuộc sống này ban tặng cho tất cả vạn vật hay sao?

       Chúng ta cũng biết rằng, ngay từ buổi bình minh của nhân loại, qua các chứng tích khảo cổ học, con người đã biết sử dụng màu sắc trong tự nhiên để làm đẹp cho cuộc sống. Qua quá trình phát triển của nhân loại, màu sắc ngày càng được coi trọng. Điều đó dễ dàng nhận thấy trong các tác phẩm hội họa qua các thời kỳ lịch sử. Từ thời Nguyên thuỷ, Cổ đại cho đến hội họa Hiện đại, màu sắc ngày càng bộc lộ tiếng nói của mình một cách mạnh mẽ mà các họa sĩ là những nhà màu sắc học vì họ đã sử dụng chúng  như một công cụ đắc dụng để diễn tả cảm xúc về cái đẹp cũng như diễn tả cảm xúc trong tâm tư của họ.

           Qua cái nhìn theo dòng lịch sử, người ta có cảm nhận dường như các nhà hội hoạ còn đi trước cả các nhà khoa học trong sự hiểu biết và vận dụng sức mạnh của những mảng màu.

          1. Tiếng nói tự thân của hình và sắc trong hội hoạ

           Là nghệ thuật thị giác, hội họa tác động vào tâm tư, tình cảm con người bằng thứ ngôn ngữ đặc trưng của nó: Hình và Sắc. Tuy nhiên cho đến nay, Hình và Sắc chỉ được hiểu một cách mơ hồ, ngay chính người sáng tác còn chưa hiểu một cách thấu đáo. Đó chính là lý do tại sao người ta thường nói, đứng trước một tác phẩm hội họa như đứng trước một ngôi đền thiêng. Salvador Dali đã từng đưa ra câu trả lời nổi tiếng: "Biết làm thế nào để quý vị hiểu rõ những thứ tôi đã đưa lên mặt tranh trong khi chính tôi là người đã tạo ra chúng cũng không thể hiểu".

 

           1.1. Hình trong hội họa

           Hầu hết sự vật trong không gian đều được nhìn nhận theo ba chiều. Do hạn chế của con mắt, chúng ta không thể nhìn thấy cả ba chiều ấy của sự vật. Bởi vậy, hình trong hội họa được tạo nên nhờ sự kết hợp giữa hình trong đầu với hình có ở trước mắt.

      - Hình là yếu tố cơ bản cấu thành tác phẩm hội họa.

      - Hình luôn tồn tại ở hai dạng: trừu tượng và cụ thể.

          1.2 Sắc trong hội hoạ

           Dưới góc độ hội họa thì sắc và màu được gọi chung trong khái niệm "màu sắc", là một trong những biểu hiện bên ngoài nhằm làm rõ thêm về đặc điểm của vật thể. 

           Màu sắc theo quan điểm hội họa, có thể nhìn nhận theo những đặc trưng sau:

-          Sắc tố: Dạng nguyên chất của những màu gốc: đỏ, vàng, lam.

-          Sắc độ: Độ đậm, nhạt của màu.

-          Sắc loại: Hỗn hợp của các sắc tố, tự biểu hiện dưới dạng riêng biệt, khó đặt thành tên. Thường được gọi theo sự liên tưởng như hạt dẻ, cánh sen, nước biển, hoa cà, cốm, mận chín…

-          Sắc thái: Vẻ khác nhau của những mầu có cùng gốc như xanh cây già, xanh cây non, xanh biếc, nõn chuối… có cùng gốc xanh lục.

           Trong hội họa, không có màu nào đẹp, cũng chẳng có màu nào xấu cả. Chúng trở nên có ý nghĩa khi được đặt trong một mối tương quan. Delacroix đã từng nói: “Hãy cho tôi một  màu bùn, tôi sẽ biến nó thành màu của làn da thiếu nữ”.

           2. Tiếng nói của màu sắc trong hội hoạ Ấn tượng và Dã thú

           2.1. Tiếng nói của màu sắc trong hội hoạ Ấn tượng

           Trong hội họa, điều khó khăn và cũng là niềm hứng khởi nhất của người họa sĩ là những thứ họ cần diễn tả chỉ có thể thực hiện trên một mặt phẳng hai chiều. Nghệ sĩ phải thực hiện công việc là tạo không gian ba chiều trên mặt phẳng ấy bằng thứ ngôn ngữ đặc trưng, đó là hình khối, đường nét, sắc độ và màu sắc. Những nỗ lực trong việc sử dụng ngôn ngữ màu sắc đã phải trải qua quá trình phát triển lâu dài và đầy thách thức mà hội họa Ấn tượng ra đời là bước ngoặt mở đường cho sự hình thành các khuynh hướng nghệ thuật Hiện đại. Thay vì các đề tài tôn giáo, đề tài mà các nghệ sĩ Ấn tượng phản ánh là cuộc sống hiện tại với sự biểu hiện mạnh mẽ của màu sắc, của ánh sáng. Thông qua các tác phẩm, nghệ sĩ Ấn tượng đã lột tả được vẻ đẹp của ánh sáng, đặc biệt là ánh sáng thiên nhiên.

           Màu sắc trong tranh là những hệ quả tất yếu của hiện tượng phản xạ và khúc xạ ánh sáng trong khí quyển. Linh hồn của màu sắc chính là ánh sáng, không có ánh sáng tức là không có màu sắc. Những bức tranh nổi tiếng về nhà thờ Đức bà Paris của Monet khẳng định sự vật thật sự không có màu. Chính sự thay đổi bất tận của nguồn sáng thiên thiên đã tô màu cho tường nhà thờ đó.

Thị quan mới của các bậc thủ lĩnh về ánh sáng rõ ràng là rộng mở hơn các thế hệ đi trước. Theo nhận định của Courbet trước kia thì ánh sáng chỉ tồn tại được khi bị bóng tối bao quanh, vì vậy ông chuyên vẽ các cảnh rừng sâu với các tia nắng le lói. Còn các họa sĩ Ấn tượng thì lại làm khác, họ thích tìm đến quang cảnh hứng nhiều ánh sáng, nơi bóng tối chỉ là thứ yếu. Pissarro, Sisley thường chọn các cảnh thuận ánh sáng, tia chiếu của ánh sáng nằm cùng hướng với tia nhìn, vì vậy trong tranh hầu như không có bóng tối.

 Nhưng những thủ pháp nào đã tạo được ánh sáng lung linh huyền ảo trong tranh của họ như vậy?

           Trước tiên là do họ đã biết vận dụng một cách linh hoạt những lý thuyết về quang học. Theo họ mỗi chất liệu cho thấy một màu nhất định nhưng vật thể vừa bị nhuốm bởi màu của ánh sáng lại vừa chịu ảnh hưởng của các màu của nhiều vật thể khác, kể cả màu của nền trời. Họ còn nắm được quy luật bổ túc của các màu. Trong vòng tròn quang phổ thì các màu đối xứng qua tâm sẽ là những cặp tương phản, ví dụ đỏ đối lập với lục, vàng đối lập với lam. Vì vậy tất cả sự vật khi bị tác động của ánh sáng thì phần bóng tối sẽ có màu đối lập với màu của phần sáng.

           Để tả phần sáng, người ta ít dùng trắng mà thay bằng màu vàng nhạt, hoặc da cam. Do đó, các bóng tối thường được nhuốm màu lam, là màu tương phản của vàng.

Vì trắng chỉ được dùng hạn chế nên màu tương phản của nó là đen cũng ít được dùng, thậm chí không có trong bảng màu. Monet coi màu đen là kẻ thù của Ấn tượng, vì trong ánh sáng không hề có màu đen.

           Ngoài ra, họ cũng có những đóng góp rất lớn về mặt kỹ thuật. Vì chủ trương mới phải có những giải pháp mới. Các họa sĩ Ấn tượng đã mở rộng những phương pháp pha màu đặc biệt, trong đó phép pha màu xen kẽ nổi tiếng của Seurat mệnh danh là Chủ nghĩa điểm sắc, được các thế hệ sau khai thác và phát huy  triệt để. Theo phương pháp này, màu sắc thực sự không hề được trộn nhuyễn trên palette mà chỉ được đặt sít sao theo hàng lối trên mặt tranh. Khi nhìn từ xa, các chấm màu cho thấy chúng tự hòa vào nhau. Đây là phương pháp pha màu bằng mắt, dựa vào cảm ứng thị giác đối với ảnh hưởng qua lại của các điểm màu xen kẽ liên tiếp.

           Các hiệu quả thời tiết như mưa, nắng, sương mù… hay các hiện tượng khí tượng như hoàng hôn, rạng đông là cảm hứng chính của họa sĩ Ấn tượng. Hòa sắc trong tranh của họ thật phong phú và đa dạng, khẳng định nguồn sáng là nhân tố quyết định màu sắc trong tranh.

           Cách nhìn nhận màu sắc của hội họa Ấn tượng cũng rất gần với lý thuyết màu sắc của các ngành vật lý cổ điển, là sự vật vốn không có màu, nhưng cho thấy màu sắc là do hiệu ứng quang sinh lý khi nó được ánh sáng tác động vào. Muốn ăn nhập với không gian cùng các trạng thái của khí quyển thì mỗi vật thể phải được phủ lên nhiều lớp màu tương ứng với sự tán xạ ánh sáng trên bề mặt của nó. Từ quan điểm đồng nhất với khoa học như vậy các họa sĩ Ấn tượng đã làm thay đổi hoàn toàn cách nhìn màu trong hội họa. Họ đã tạo nên những hòa sắc tươi sáng hay lung linh huyền ảo, có hơi thở của cuộc sống thay vì các gam màu u trầm đơn điệu ngự trị từ bao thế kỷ. Nhưng điều quan trọng hơn cả là là họ đã khai mở một hướng đi mới, châm ngòi cho sự phát triển của các xu hướng Modec và hậu Modec sau này.

           2.2. Tiếng nói của màu sắc trong hội hoạ Dã thú

           Sau khi Ấn tượng phát triển rực rỡ, nó bắt đầu có dấu hiệu bế tắc và đi xuống. Hơn nữa, sự xuất hiện của dòng Nabis với những quang cảnh nội thất trong sắc điệu u trầm lại càng tăng thêm vẻ ảm đạm của nền hội họa giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Và Dã thú đã xuất hiện đúng lúc làm bừng tỉnh tình trạng bế tắc đó. Với tuyên bố đề cao màu sắc nguyên thủy, các họa sĩ đã làm kinh ngạc khán giả bằng những bức tranh rực rỡ, chói chang.

           Người khởi xướng trào lưu này là Matisse và Derain. Chủ trương của họ là gạt bỏ cái màu sắc mô phỏng, bắt chước màu của sự vật trong thiên nhiên. Matisse thiết lập được mối quan hệ của các màu nguyên thủy trên mặt phẳng, chúng được kết hợp theo các nguyên tắc tạo hình và sự cảm nhận của tâm sinh lý thị giác. Ông đã từng phát biểu: “Tôi không thể nào sao chép nô lệ thiên nhiên, nên buộc phải diễn đạt nó theo tinh thần hội họa”.

           Màu trên tranh ông không mô phỏng theo thiên nhiên mà tự nảy sinh khi liên kết các hình tượng và sự vật. Bức “Nhảy múa” (1910) với bố cục mang tính nhịp điệu xoay tròn, khép kín với màu sắc nguyên thủy, màu đỏ của da thịt đối lập mạnh mẽ với màu lam của nền là một đặc trưng của Dã thú. Khi xem tác phẩm, người ta thấy các nhân vật như nhảy ra khỏi nền tranh. Ông cũng dùng cặp tương phản đỏ – lục để mô tả sự vật thay cho màu cặp vàng – lam phổ biến ở phái Ấn tượng, vì đỏ – lục có độ tương phản gay gắt nhất, thậm chí gây nhức nhối. Sau này, Van Dongen và Vlaminck kế thừa và phát triển phong cách Dã thú, song bảng màu của họ nhã nhặn hơn, và họ chưa có được cách dùng màu theo bản năng của Matisse.

           Tóm lại, trường phái Dã thú ra đời đúng lúc, như nhận xét của một nhà phê bình nghệ thuật, là “Sự phục thù của màu sắc”, tạo đà cho sự phát triển nghệ thuật của thế kỷ XX. Dã thú chính là cơ sở để hình thành chủ nghĩa Trừu tượng, tôn trọng tư duy màu sắc và bỏ qua yếu tố hình thể. Rồi lại xuất hiện các khuynh hướng Biểu hiện Trừu tượng và Lập thể. Tôn chỉ mục đích của các khuynh hướng có khác nhau, song họ cùng chung một quan điểm về cách sử dụng màu, đó là không phản ánh, sao chép thực tế mà biểu hiện một mục đích cụ thể, như nội tâm hay tình cảm hoặc phù hợp với chủ đề muốn biểu đạt.

           3.  Màu sắc với sự mô tả và diễn đạt

           3.1. Nghệ thuật là sự mô phỏng, gợi tả, hư cấu cuộc sống

           Người nghệ sĩ thường có linh cảm nhạy bén hơn những người thường, do đó nhiều khi họ trải qua những kinh nghiệm hiếm hoi, được coi là xuất thần. Lúc đó dường như có một năng lượng phi thường dẫn dắt chỉ bảo và họ thường tạo nên những kiệt tác mà sau đó khó có thể làm lại được. Nhiều tác phẩm hội họa có màu sắc rất khác lạ, có tính chất lung linh huyền ảo. Đó là họ đã sử dụng một giác quan đặc biệt khi cảm nhận màu sắc và thể hiện chúng trên tranh.

           Tả được đúng màu của thiên nhiên luôn là niềm mong ước của nhiều họa sĩ. Thiên nhiên đẹp đẽ với những sắc độ muôn hình muôn vẻ là nguồn cảm hứng bất tận của những người làm nghệ thuật, song chúng ta lại không thể đưa nguyên xi thiên nhiên vào nghệ thuật được. Con người không thể tạo ra một quan hệ lặp lại. Điều này đúng với tất cả các loại hình nghệ thuật.

           Quả vậy, chúng ta không thể đưa tiếng còi tàu, tiếng búa hay tiếng động vật vào âm nhạc, không thể đưa lối nói hàng ngày vào văn học, cũng như không thể đưa đồ vật thật vào bối cảnh của một vở kịch. Thật ra không phải chúng ta né tránh điều đó song đúng là chúng không có hiệu quả bằng sự tái tạo mang tính chủ quan. Nghệ thuật là sự mô phỏng, gợi tả, hư cấu cuộc sống chứ không phải là lặp lại cuộc sống. Và đó chính là sự sáng tạo của con người.

           Có một câu chuyện kể rằng trong một cuộc thi kêu giống tiếng động vật, có một thí sinh đã khôn khéo mang theo một con vịt và khi anh ta bắt đầu thể hiện thì bóp cho con vịt kêu. Kết quả người đó bị loại ngay vì theo sự đánh giá của ban giám khảo, tiếng kêu đó không giống tiếng vịt.

           Cũng vậy, màu của hoa rất rực rỡ, song nếu cắt những nhánh hoa đó dán vào tranh thì vẻ rực rỡ kém đi nhiều và trông rất giả tạo. Tất nhiên, ngày nay xu hướng dùng các chất liệu khác ngoài màu vẽ tham gia vào tác phẩm là một kỹ thuật rất phổ biến, song những chất liệu đó khi đắp vào lại không phải để tả chúng mà để biểu đạt một tinh thần khác. Đây quả là một điều hết sức độc đáo.

           3.2. Màu sắc mang yếu tố tượng trưng

           Theo sự nhận xét của nhiều họa sĩ, thể loại tranh phong cảnh thì màu lục là màu khó vẽ nhất. Có thể căn cứ vào đó để biết họa sĩ nào là chuyên nghiệp và họa sĩ nào là nghiệp dư. Màu lục của thiên nhiên thật đẹp, xanh của cây, của lá, của cánh đồng lúa… nhưng khi đưa vào tranh mà giữ nguyên màu lục đó thì lại không ra, trông rất giả tạo. Kinh nghiệm cho thấy khi tả cây cối, tỷ lệ các màu khác chiếm nhiều hơn, ví dụ đỏ, vàng đất, nâu là những màu luôn xuất hiện xen kẽ cạnh màu lục. Thậm chí không dùng màu lục nguyên gốc mà lại pha từ những màu khác như vàng và lam, vàng đất và lơ… thì mới ra màu của cây cỏ. Điều đó chứng tỏ sự biến hóa khôn lường của màu sắc trên tranh. Ngoài ra còn phải kể đến sự thêm bớt các yếu tố khi đưa vào tác phẩm. Khả năng thêm bớt, gia giảm, biến hóa thể hiện được tài năng và bản lĩnh của người cầm bút. Trên tranh họa sĩ phải có được sự chủ động tới các yếu tố như hình khối, đường nét và màu sắc. Thậm chí giữa hình và màu còn có quan hệ hết sức mật thiết với nhau. Trong cuốn Lục pháp luận của Tạ Hách có câu: “Tùy loại phú thái” có nghĩa là tùy loại vật mà cho màu. Chuyện kể rằng có một họa sĩ nhận vẽ cho Trúc Lâm Tự một bức tranh với đề tài “Rừng trúc”. Bức vẽ rất đạt, nhưng lại thể hiện bằng toàn nét đỏ. Điều này gây thắc mắc cho tất cả những người tới xem và họ đều cho rằng hình đúng nhưng màu thì sai vì không có giống trúc nào màu đỏ. Họa sĩ hỏi lại: “Thế vẽ màu gì mới đúng?”. “Màu đen” - tất cả cùng đáp. Họa sĩ bâng quơ: “Thế có trúc nào màu đen không nhỉ?”. Mọi người đang lúng túng, bỗng có tiếng trả lời: “Không có trúc màu đen, nhưng phải vẽ đen mới ra trúc”. Nghe nói vậy, họa sĩ cúi đầu im lặng và lúc này mới hiểu hết ý nghĩa của “Tùy loại phú thái”. Câu chuyện trên đã nói lên quan điểm của người phương Đông, đề cao yếu tố chủ quan của con người, không lệ thuộc vào thiên nhiên và màu sắc còn mang yếu tố tượng trưng. Rõ ràng cây trúc có màu xanh lục nhưng không một ai đả động tới màu này. Tùy vào vật thể và tương quan giữ chúng hoặc ý nghĩa của đề tài mà cho màu. Ngoài ra còn phụ thuộc vào không gian, vào ngoại cảnh và những thứ tác động vào tác phẩm. Câu chuyện còn nhằm đề cao màu đen. Màu đen có một thế mạnh, đó là nó phù hợp với tất cả các hình và chất liệu. Màu đen còn nhằm nhắc gợi, suy nghĩ về màu chứ không thể hiện màu.

     4. Kết luận

           Màu sắc là một trong những yếu tố đặc trưng của ngôn ngữ hội họa từ khi chất liệu màu được chế tạo và sử dụng vào sáng tác tranh. Cuộc sống sẽ tối tăm, tẻ nhạt vô cùng nếu thiếu màu sắc. Màu sắc biến hoá khôn lường trước sự vận động của cuộc sống. Con người bị nó tác động và bị ảnh hưởng một cách rõ rệt. Nó làm cho chúng ta vui mà cũng làm cho chúng ta buồn. Người hoạ sĩ trong sự sáng tạo của mình có thể gây tác động tích cực tới đồng loại thông qua màu sắc. Triết học phương Đông thường nói tới hai cặp phạm trù là lý và tình. Lý được xem như sự áp đặt trong khuôn khổ, buộc mọi sự vận động phải tuân thủ nguyên tắc, trong khi đó tình là sự dung thông, liên kết các yếu tố đơn lẻ. Trong hội họa, lý được hiểu là hình còn tình là màu sắc. Hai yếu tố này có quan hệ biện chứng với nhau. Hình thì khô khan nhưng chặt chẽ, còn màu thì mang sắc thái tình cảm ướt át hơn nhưng nếu quá đà sẽ gây hỗn độn, phản cảm. Vì thế hai yếu tố này bổ trợ cho nhau, tính thẩm mỹ sẽ được phát huy cao độ. Màu giúp người họa sĩ truyền tải được tâm tư tình cảm cũng như các yếu tố lớn hơn như tư tưởng tư duy. Nó cũng là sợi dây nối kết giữa tác giả và công chúng yêu nghệ thuật. Màu sắc là cái đẹp mang tính trực cảm để khán giả có thể cảm thụ một cách tức thời. Màu giúp hội họa ngày càng phong phú và đa dạng.

           Như vây, màu sắc là yếu tố vô cùng quan trọng trong tác phẩm hội hoạ. Kỳ diệu thay, chỉ với bảy màu thôi mà thiên nhiên và con người đã tạo ra muôn vàn màu khác nhau, làm cho thế giới này đẹp đẽ và hấp dẫn biết bao! Bên cạnh những kỳ tác bằng màu sắc và âm thanh, của thiên nhiên, hàng triệu triệu bức tranh tuyệt đẹp đều được nảy sinh từ bấy nhiêu màu sắc! Sẽ không cực đoan khi cho rằng, màu sắc là tinh nhuỵ của cuộc sống, là sinh khí của đất trời, là đặc trưng ngôn ngữ của hội hoạ. Thiếu màu sắc, cuộc đời này sẽ buồn tẻ, lạnh lẽo biết nhường nào!

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1.] Đỗ Văn Khang (2001), Nghệ thuật học. Nxb ĐHQG Hà Nội

[2.] Đàm Luyện (2007), Giáo trình bố cục. Nxb ĐHSP

[3.] Tạ Phương Thảo (2004), Giáo trình trang trí. Nxb ĐHSP

[4.] Phạm Ngọc Tới (2007), Giáo trình trang trí tập (2)  Nxb ĐHSP

[5.] Nguyễn Thế Hùng – Nguyễn Thị Nhung (2007), Giáo trình Trang trí, Nxb ĐHSP

[6.] Trần Tiểu Lâm – Phạm Thị Chỉnh (2007), Giáo trình Mỹ thuật học. Nxb ĐHSP .

[7.] Đặng Thị Bích Ngân (2000) Danh họa cuộc đời và tác phẩm Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội

Tin mới

Đọc nhiều nhất



Copyright © 2017 Copyright Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Hà Tĩnh Rights Reserved.