foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non

+84 0393.885.129
khoasp.thmn@htu.edu.vn
Liên hệ



THÀNH NGỮ HÁN -  VIỆT TRONG VĂN CHÍNH LUẬNCỦA CHỦ TỊCH HỒ CHI MINH

TÓM TẮT

Tiếng Việt và tiếng Hán cùng loại hình ngôn ngữ đơn lập và đều có lịch sử phát triển lâu đời. Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ kéo dài hàng ngàn năm đã để lại kết quả: bên cạnh việc vay mượn rất nhiều từ ngữ tiếng Hán, người Việt còn mượn một số lượng khá lớn thành ngữ Hán – Việt  để làm phong phú, đa dạng thêm từ vựng tiếng Việt. Tuy vậy, khi được người Việt mượn vào để sử dụng, cũng như các từ Hán – Việt, các thành ngữ Hán - Việt đã chịu những tác động nhất định của tiếng Việt. Trong hoạt động ngôn ngữ tiếng Việt, các thành ngữ Hán - Việt được sử dụng trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau, tuy nhiên được  sử dụng nhiều nhất vẫn là  trong trong ngôn ngữ chính luận.Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ trình bày kết quả tìm hiểu về việc dùng thành ngữ Hán - Việt trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm minh chứng cho sự biến đổi và giá trị sử dụng của lớp thành ngữ này trong tiếng Việt.

Từ khóa: thành ngữ Hán - Việt, văn chính luận, giá trị sử dụng.

1.Đặt vấn đề

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kiệt xuất, người anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam. Suốt cuộc đời mình,Người đã đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập, tự do của dân tộc, cho ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Trên bước đường hoạt động cách mạng đó, cùng với những hành động thực tiễn, để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong đấu tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết để tuyên truyền, đấu tranh cách mạng. Toàn bộ trước tác của người là di sản vô cùng quý báu của dân tộc với nhiều phong cách khác nhau: phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách nghệ thuật … Người viết bằng tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hán …. Tuy nhiên nhìn trên diện rộng ta thấy phần lớn các sáng tác của Hồ Chủ tịch thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận.

Trong các tác phẩm  chính luận của mình Hồ Chủ tịch luôn quan tâm đến việc sử dụng ngôn ngữ. Người nhận thấy rõ giá trị to lớn của những cách biểu đạt có sẵn, mang hình thức gọt giũa chứa đựng nội dung súc tích, là kết tinh của trí tuệ quần chúng  như thành ngữ, vì vậy người đã sử dụng chúng rất nhiều trong các bài viết của mình, và thực sự việc sử dụng thành ngữ thích hợp với người nghe, với nội dung và hoàn cảnh nói đã đưa lại nhiều giá trị độc đáo trong tác phẩm chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đặc biệt, trong các tác phẩm chính luận của Người bên cạnh việc sử dụng vốn thành ngữ thuần Việt quen thuộc trong lời ăn tiếng nói của nhân dân, ta bắt gặp một số lượng đáng kể các thành ngữ Hán - Việt – đơn vị ngôn ngữ vay mượn của tiếng Hán.. Người hiểu rõ giá trị của từ ngữ Hán – Việt và thành ngữ Hán - Việt trong việc tạo cho tác phẩm chính luận của mình có thêm màu sắc trang trọng, tính hình tượng, tính cổ kính, tính nghiêm túc, tính thuyết phục mà nhiều từ hoặc thành ngữ thuần Việt vốn mang nghĩa cụ thể, giản dị không thể sánh được.Mặt khác, Hồ Chủ tịch cũng nhận thấy rất rõ tính ưu việt của thành ngữ nói chung và thành ngữ Hán - Việt nói riêng với tư cách là những đơn vị làm sẵn, hết sức ngắn gọn, súc tích, giàu tính hình tượng và biểu cảm, nó giúp cho các bài nói, bài viết của người có tính hàm súc, cô đọng, đa nghĩa chứ không “trường giang đại hải, dây cà dây muống”.

Việc sử dụng thành ngữ Hán - Việt trong tác phẩm chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự lựa chọn có chủ định của Người để đạt hiệu quả cao nhất trong bài nói bài viết của mình, và cũng là phục vụ tốt nhất cho mục đích chính trị, cho khả năng tập hợp quần chúng, thúc đẩy họ tham gia đấu tranh.

Vậy để đạt được những hiệu quả, những mục đích như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng các thành ngữ Hán - Việt trong tác phẩm chính luận của mình như thế nào?

2. Thành ngữ Hán - Việt trong văn chính luận củaChủ tịch Hồ Chí Minh

2.1. Các thành ngữ Hán - Việt được Chủ tịch Hồ Chí Minh  sử dụng rất đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh

Điều trước hết mà ta nhận thấy đó chính là những thành ngữ Hán – Việt được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng trong các bài nói, bài viết theo phong cách chính luận rất đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với đối tượng giao tiếp.

Sinh thời, mỗi khi cầm bút viết Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt ra những câu hỏi: Viết cho ai ?, Viết cái gì ?, Viết như thế nào?. Trong đó, đối tượng giao tiếp (“Viết cho ai”) luôn luôn được Người quan tâm chú ý trước nhất, bởi nó sẽ chi phối sâu sắc đến cách “viết như thế nào” cũng như việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ ra sao? Khi nói chuyện, giao tiếp với một tầng lớp nhân dân nào Chủ tịch Hồ Chí Minh thường hay dùng lớp từ quen thuộc của tầng lớp đó để diễn giải tư tưởng của Người. Điều này cũng thể hiện rõ trong việc lựa chọn và sử dụng thành ngữ trong các bài nói, bài viết của Hồ Chủ tịch.

Khi nói chuyện với cán bộ, Đảng viên, những người trí thức, những chiến sĩ cộng sản… những đối tượng có trình độ học vấn khá, nhất là những người có ít nhiều vốn Hán học, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng nhiều thành ngữ  Hán - Việt nhằm tăng sức thuyết phục, sự trang trọng trong lời nói của mình. Chẳng hạn:

Trong bài nói chuyện với cán bộ, Đảng viên “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh, họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.”Trong đoạn văn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng liên tiếp các từ Hán - Việt: cá nhân chủ nghĩa, gian khổ, tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, địa vị, quyền hành … và liên tiếp các thành ngữ Hán -Việt: tham danh trục lợi, tự cao tự đại hoặc các cụm từ đẳng lập Hán - Việt: địa vị quyền hành, độc đoán chuyên quyền, quan liêu mệnh lệnh… làm cho lời dạy của Người hết sức nghiêm khắc và thâm thúy.

Nói về đạo đức của người cách mạng, của người chiến sĩ cộng sản với những cán bộ, Đảng viên cao cấp của nhà nước, hoặc phát biểu tại các hội nghị, Người thường sử dụng các thành ngữ Hán - Việt có tính chất trang trọng và tác động mạnh mẽ hơn:“Các đồng chí lãnh đạo phải gương mẫu phải quan tâm đến đời sống của cán bộ đồng bào, phải đồng cam cộng khổ”(Hồ Chí Minh toàn tập - tập 12, trang 22); “Phải chí công vô tư và có tinh thần lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Đó là đạo đức của người cộng sản”(Hồ Chí Minh toàn tập - tập 10 – trang 311). Như vậy trong những bài viết, bài nói này Hồ Chủ tịch đã điểm vào rất nhiều các thành ngữ Hán - Việt “đồng cam cộng khổ”, “chí công vô tư”... Và dường như sức nặng của câu văn tập trung vào những thành ngữ Hán - Việt này tạo nên một sự tác động mạnh mẽ trong lòng người đọc, người nghe.

Hay khi nói chuyện với trí thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu: “Hôm  nay tôi muốn nói câu chuyện rất đơn giản, nông cạn, câu chuyện về Tam tự kinh. Câu đầu tiên của Tam tự kinh là “Nhân chi sơ, tính bản thiện” chúng ta mượn câu ấy để làm đầu đề nói chuyện. Bằng việc nhắc tới Tam tự kinh cùng mấy chữ Hán “Nhân chi sơ, tínhbản thiện” như là “chuyện nhà” của người trí thức, Hồ Chủ tịch bắt đầu giảng giải tư tưởng của mình:

Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.

Thiện nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang. Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẽ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”.

Được Hồ Chủ tịch giảng giải về nhân chi sơ tính bản thiện, về nghĩa vụ “phò chính trừ tà” giới trí thức như nghe thấy tiếng nói đầy lương tri của “bậc đại trí, đại dũng”.

Trong khi đó, lúc nói chuyện với quần chúng nhân dân lao động thì những người lính, những cụ già, những người nông dân… đều thấy trong ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ lời ăn tiếng nói” của chính mình. Lúc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại sử dụng chủ yếu lớp thành ngữ thuần Việt của quần chúng nhân dân để nói chuyện với họ.

 “Tôi nguyện đem hết tài mọn sức hèn xin đi theo các vị, dẫu có tan xương nát thịt cũng không tiếc”.  (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 4, tr. 165)                              

 “Mỗi người phải ra sức góp công góp của để xây dựng nước nhà. Chớ nên “ăn cỗđi trước, lội nước theo sau”.(Hồ Chí Minh toàn tập- tập 10, tr.299 )

“Đồng bào thường bị bọn thực dân phản động dày vò, hành hạ, uy hiếp ngược đãi, bị chúng áp bức đủ mọi bề như cá nằm trên thớt ”.(Hồ Chí Minh toàn tập - tập 5, tr. 173)

Các thành ngữ thuần Việt “tài mọn, sức hèn”, “ăn cỗ đi trước lội nước theosau”, “như cá nằm trên thớt”… vừa giản dị, gần gũi, giàu hình ảnh và sức gợi tả này đã tác động đến tình cảm và nhận thức của quần chúng nhân dân nhanh nhất, có hiệu quả nhất.Vì vậy, khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải ra sức thi đua cày sâu cuốcbẩm, làm cỏ bỏ phân,vì rằng “cày sâu cuốc bẩm” thóc đầy lẫm, khoai đầy bồ, “thêm gánh phân thêm cân thóc”,  người nông dân cảm thấy như nghe lời chỉ bảo ân cần của một bậc lão nông.

Ngay cả cùng một câu thành ngữ nhưng với những đối tượng khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có cách sử dụng khác nhau.Đối với những người quần chúng có trình độ hiểu biết chưa cao tất cả các đơn vị từ vựng chưa quen, khó hiểu, hay chưa có trong vốn ngôn ngữ của tầng lớp này đều được Người thay bằng hình thức biểu đạt dễ cảm nhận hơn. Những thành ngữ Hán - Việt mà Người sử dụng bao giờ cũng kèm theo lời giải thích bằng tiếng Việt:

“Tục ngữ có câu “dân dĩ thực vi tiên” nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không  có ăn là không có trời. Lại có câu “ có thực mới vực được đạo” nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được gì cả”.(Hồ Chí Minh  tuyển tập – tập 1, trang 38)

Còn đối với đối tượng học vấn khá hơn, thành ngữ Hán - Việt này được Hồ Chí Minh sử dụng ở dạng nguyên gốc:

“Việt Nam có câu tục ngữ : “có thực mới vực được đạo”. Trung Quốc cũng có câu tục ngữ: “dân dĩ thực vi tiên”. Hai câu ấy tuy đơn giản nhưng rất đúng lẽ”.(Bài nói tại hội nghị đại biểu Trung ương, Hồ Chí Minh tuyển tập – tập  2, trang 265)

Như vậy, chúng ta có thể thấy trước hết các thành ngữ Hán - Việt được sử dụng trong các tác phẩm chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh. Vì vậy những thành ngữ Hán - Việt mà Người đã sử dụng không gây sự khó hiểu mà ngược lại nó tạo được những giá trị nhất định trong hoàn cảnh sử dụng. Lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì thế trở nên gần gũi với các tầng lớp nhân dân khác nhau.Tư tưởng của Hồ Chủ tịch vì thế đi một cách tự nhiên vào suy nghĩ của các tầng lớp nhân dân khác nhau.

2.2. Thành ngữ Hán - Việt trong các sáng tác chính luận của Hồ Chủ tịch được sử dụng rất linh hoạt, sống động, uyển chuyển.

Không những được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với đối tượng giao tiếp mà thành ngữ Hán - Việt trong các sáng tác chính luận của Hồ Chủ tịch cũng hết sức linh hoạt, sống động, uyển chuyển chứ không còn là những khối từ vựng cố định, đông cứng như trong từ điển nữa. Tìm hiểu thành ngữ Hán- Việt trong các tác phẩm chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta có thể thấy rất rõ đặc điểm này.

Trước hết, thành ngữ Hán - Việt được sử dụng nguyên thể, nghĩa là Hồ Chủ tịch sử dụng nguyên dạng các thành ngữ Hán- Việt trong từ điển vào trong tác phẩm chính luận của mình.

Ví dụ:

    “… Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa… ”

 (Nên học sử ta)

 “… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi chỉ đeo đuổi một mục đích là làm cho ích quốc lợi dân

                                (Nói chuyện cùng đồng bào trước khi sang Pháp)

“Đành rằng sự mất sự còn là quy luật chung của tạo hóa nhưng gặp lúc sinh ly tử biệt thì khó mà ngăn mối xót thương ”.(Bài điếu đồng chí Hồ Tùng Mậu)

So với thành ngữ thuần Việt được sử dụng trong tác phẩm văn chính luận, chúng ta có thể thấy loại thành ngữ Hán - Việt sử dụng ở dạng nguyên thể chiếm tỷ lệ lớn hơn. Điều này cũng dễ hiểu: nếu như thành ngữ thuần Việt là đơn vị ngôn ngữ do người bản ngữ đặt ra nên quen thuộc, gần gũi, dễ hiểu thì thành ngữ Hán - Việt là đơn vị vay mượn, mặc dầu đã được Việt hoá ở những mức độ khác nhau nhưng nhìn chung chúng vẫn có tính trừu tượng, khó hiểu hơn. Vì vậy để người đọc, người nghe có thể tiếp nhận dễ dàng hơn  các thành ngữ Hán - Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ yếu dùng chúng ở dạng nguyên thể trong bài viết, bài nói của mình .

Tuy nhiên, ngoài việc sử dụng những thành ngữ nguyên thể, để tạo nên những câu văn, lời thơ giàu hình ảnh, nhiều ý nghĩa, trong một số trường hợp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra những biến thể thành ngữ Hán - Việt bằng nhiều cách thức rất sáng tạo, linh hoạt.Người có thể tạo ra các biến thể bằng cách thay thế một hoặc một số yếu tố trong thành ngữ gốc. Chẳng hạn:

“Chớ tự kiêu tự đại. Tự kiêu tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Tự kiêu tự đại tức là thoái bộ”.(Cần kiệm liêm chính).

 “Vì trọng trai khinh gái  là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”. (Nam nữ bình quyền).

“Vì độc lập tự do của tổ quốc, vì hoà bình ở châu Á và thế giới nhân dân Việt Nam không sợ hy sinh gian khổ, quyết đánh quyết thắng và nhất định sẽ thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Các biến thể: “trọng trai khinh gái”, “tự kiêu tự đại” được tạo ra từ việc thay thế từ ngữ trong các thành ngữ gốc “trọng nam khinh nữ”,tự cao tự đại”. Ở đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng các từ đồng nghĩa để thay thế cho nhau: “trai – nam”, “gái - nữ”, “kiêu – cao”,. Chúng không làm thay đổi nghĩa của thành ngữ gốc nhưng đã tạo nên những sắc thái mới cho lời văn, tạo nên sự bất ngờ, mới lạ trong cách nói cách viết của Người, đồng thời làm cho nội dung của nó trở nên dung dị, gần gũi, dễ đi vào lòng người hơn.

Đặc biệt, có những trường hợp sự thay thế từ ngữ trong thành ngữ gốc đã tạo nên một biến thể thành ngữ mang nghĩa hoàn toàn khác. Ví dụ:

       “Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không phải là nửa tâm nửaý”. (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 2, trang 200)

Với biến thể thành ngữ này, Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh được phẩm chất tốt đẹp của người anh hùng, chiến sỹ thi đua trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Cái “nửa tâm nửa ý” đã làm bật lên cái “toàn tâm toàn ý” của những con người đáng quý ấy.

Người cũng có thể tạo ra biến thể bằng cách đảo trật tự các yếu tố trong thành ngữ gốc. Những thành ngữ đảo trật tự này đều là những thành ngữ đối xứng, vì vậy nếu đảo trật tự yếu tố hay đảo vế không làm thay đổi nghĩa của  thành ngữ gốc nhưng nó đã tạo nên một sức hấp dẫn trong cách nói của Người.

“Đạo đức ấy có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong. (Đạo đức cách mạng)

“Về phong tục phải cấm hẳn say sưa, cờ bạc, hút xách, bợm bảo, trộm cắp… Phải tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau. Làm cho làng mình thành một làng phong thuần tục mỹ”.  (Đời sống mới)

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tạo biến thể thành ngữ Hán - Việt bằng cách chêm xen hoặc tỉnh lược một hoặc một số yếu tố vào thành ngữ gốc hết sức linh hoạt, sáng tạo. Ví dụ:

“Đồng bào miền Nam tin tưởng chắc chắn rằng bỉ cực thì thái lai. Mùa xuân thống nhất và tự do nhất định sẽ đến”. ( Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, trang 47)

            “ Cảm ơn bà biếu gói cam

             Từ thì không đúng, nhận làm sao đây ?

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai”.

                                           ( Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 168)

Việc thêm yếu tố “thì”, “đến” vào giữa hai vế của thành ngữ không làm thay đổi nghĩa của thành ngữ song đây lại là cách nói gần gũi với người Việt. Tạo nên một nhịp điệu nhẹ nhàng, khoan thai cho câu văn vì vậy dễ đi vào lòng người hơn.

Cũng có khi Người thêm vào hai vế của thành ngữ Hán - Việt những tổ hợp từ làm cho nhịp điệu câu văn dàn trải đồng thời như khắc sâu hơn ý nghĩa của câu nói. Ví dụ:

“Tôi hứa với chú: toàn thể đồng sự và đồng chí sẽ cố gắng noi gương đạo đức cách mạng của chú, noi gương chú đã tận trung với nước, tận hiếu với dân’’  (Bài điếu đồng chí Hồ Tùng Mậu)         

Ngược lại với cách tạo biến thể trên, Hồ Chủ tịch còn tạo biến thế thành ngữ Hán- Việt bằng cách bớt một hoặc một số yếu tố trong thành ngữ gốc. Ví dụ:

“Có người biết chép, đề xướng ra một chút thì lại làm rất hồ đồ hoặc xúi dân bạo động mà không bày cách tổ chức hoặc làm cho dân có tính ỷ lại mà quên tính tự cường”. (Đường cách mạng)

           Thành ngữ Hán - Việt tự lực tự cường  đã được rút gọn lại thành tự cường bằng cách bớt đi hai yếu tố “tự lực” - sự tỉnh lược này chỉ làm thay đổi cấu trúc chứ không làm thay đổi nghĩa của thành ngữ. Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giữ lại những yếu tố cốt lõi, đủ khêu gợi ở người đọc, người nghe những hình ảnh, ý nghĩa của câu thành ngữ đó. Vì vậy câu văn, lời nói càng giàu sức gợi và sự ám ảnh trong lòng người.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tạo ra một loại biến thể độc đáo cho thành ngữ Hán - Việt nữa đó chính là biến thể sử dụng hình ảnh của thành ngữ. Đây là loại biến thể mà cấu trúc và ý nghĩa của thành ngữ gốc không hiện lên trên câu chữ, trên bề mặt văn bản mà lại ẩn sau những câu chữ ấy. Hay theo cách nói của giáo sư  Hoàng Văn Hành: “Dùng thành ngữ dưới dạng không thành ngữ tức là dùng cái thần của thành ngữ chứ không phải dùng cấu trúc của nó”.  Ví dụ:

 “Các sự hi sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng, hạnh phúc thì mình nhường người ta hưởng trước”. (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 5. trang 185)

“Mười hai tiểu đoàn Tây Đức cũng mới có danh mà không có thực”. (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 6. trang 517)

Những thành ngữ gốc: tiên ưu hậu lạc, hữu danh vôthực... đã hiện ra trong tâm trí người đọc, người nghe qua những hình ảnh được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng trong các câu nói trên. Kiểu biến thể này cho ta thấy một sự am hiểu sâu sắc của Người đối với những thành ngữ  Hán - Việt, đồng thời chúng còn giúp ta cảm nhận tốt hơn sự sáng tạo linh hoạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sử dụng thành ngữ Hán - Việt nói riêng, thành ngữ nói chung.

3. Kết luận    

Như vậy, trong bài viết này, chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu và phân tích việc sử dụng thành ngữ Hán Việt trong tác phẩm chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

Thành ngữ  Hán - Việt đi vào hoạt động hành chức dưới bàn tay điêu luyện của các nghệ sĩ ngôn từ trở nên hết sức linh hoạt, sống động, uyển chuyển, đáp ứng được yêu cầu của các loại văn bản khác nhau.

Thành ngữ Hán-  Việt mang những sắc thái ngữ nghĩa và biểu cảm khác với thành ngữ thuần Việt, vì vậy phạm vi sử dụng của chúng cũng khác nhau, mỗi loại do đó cũng có những giá trị riêng trong tác phẩm.

Thành ngữ Hán -Việt nhìn chung biến đổi ít hơn so với thành ngữ thuần Việt. Có lẽ, do chúng là những đơn vị vay mượn, dẫu sao cũng có phần xa lạ và khó hiểu với người bản ngữ nên để người đọc lĩnh hội ý nghĩa của nó một cách trọn vẹn thì tốt nhất là sử dụng nó ở dạng nguyên thể, và thực tế sử dụng đã cho ta thấy rõ điều đó.

Những thành ngữ Hán - Việt khi đi vào tiếng Việt đã được Việt hoá một phần dưới tác động của quy luật tiếng Việt, nay dưới bàn tay sử dụng ngôn từ điêu luyện của Hồ Chủ tịch một lần nữa lại được biến hoá hết sức linh hoạt, uyển chuyển. Với việc sử dụng một cách hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh giao tiếp, thành ngữ Hán - Việt trong các tác phẩm chính luận của Hồ Chủ tịch đã giúp Người truyền đạt hiệu quả các nội dung, tư tưởng của mình, đặc biệt nó còn tạo ra sức hấp dẫn, độc đáo cho các bài nói bài viết của người. Đây cũng  chính là biểu hiện cho sự sáng tạo độc đáo, sự tài tình, điêu luyện trong phong cách chính luận của Người.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội

 [2]. Nguyễn Bích Hằng, Trần Thanh Liêm (2005), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Hán- Việt, Nxb Văn hoá - Thông tin , Hà Nội

[3]. Như ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành (1994), Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán, Nxb Văn hóa, Hà Nội

[4]. Lữ Huy Nguyên (1997), Tuyển tập văn chính luận Hồ Chí Minh, Nxb Giáo dục, Hà Nội

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tin mới

Đọc nhiều nhất



Copyright © 2017 Copyright Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Hà Tĩnh Rights Reserved.