foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non

+84 0393.885.129
khoasp.thmn@htu.edu.vn
Liên hệ



SỰ HÌNH THÀNH VÀ BIẾN ĐỔI NGHĨA CỦA CÁC TỪ TIẾNG VIỆT

TRONG LỜI NÓI Ở GIỚI TRẺ HIỆN NAY

Nguyễn Thị Thái Hà – Lớp K8 – ĐHTH

TÓM TẮT

Có thể nói, vốn từ của một ngôn ngữ luôn luôn phát triển và biến đổi nhưng không biến mất. Bởi ngôn ngữ lúc nào cũng đứng trước đòi hỏi phải kịp thời sáng tạo ra những phương tiện mới để biểu thị những sự vật hiện tượng và những nhận thức mới xuất hiện trong xã hội, để thay thế cho những cách diễn đạt, không còn khả năng gợi tả và bộc lộ cảm xúc, không còn gây ấn tượng sâu sắc ở người đọc, người nghe. Trong lịch sử tiếng Việt, đã có nhiều con đường phát triển vốn từ như cấu tạo từ mới từ các hình vị, vay mượn, từ vựng hóa các đoản ngữ. Và phát triển nghĩa của từ là một trong các con đường chủ yếu để phát triển vốn từ ngữ.

1. Đặt vấn đề

Ngôn ngữ là tín hiệu đặc biệt, là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người.Tiếng Việt từ lâu đã trở thành ngôn ngữ quốc gia thống nhất của đất nước Việt Nam. Cùng với sự phát triển của xã hội, tiếng Việt cũng phát triển, biến đổi không ngừng, đặc biệt là phát triển về phương diện ngữ nghĩa. Trong ngôn ngữ học, cũng như Việt ngữ học, ngữ nghĩa luôn là một trong những bình diện quan trọng nhất được nghiên cứu sâu rộng. Về ngữ học từ vựng, các nhà nghiên cứu đã tiến hành xác định bản chất nghĩa của từ, các kiểu nghĩa, các kiểu chuyển nghĩa cũng như nguyên nhân của hiện tượng biến đổi nghĩa của từ ngữ. Dù vậy, “cho đến nay ngữ nghĩa học vẫn là một trong những lĩnh vực khó nhất của ngôn ngữ học và đi vào ngữ nghĩa học của chúng ta như đi vào một đại dương mênh mông của những ý kiến khác nhau” (GS. Nguyễn Thiện Giáp). Nhưng lại cũng chính vì thế mà ngữ nghĩa học đang còn là một địa hạt hứa hẹn nhiều thành tựu nghiên cứu ở phía trước. Thuộc phạm trù của ngữ nghĩa học, hiện tượng chuyển nghĩa của từ cũng đem đến những thú vị đáng quan tâm bởi ý tưởng và tâm hồn phong phú của người Việt Nam.Đặc biệt là trong xã hội hiện nay, từ ngữ luôn nảy sinh ra các nghĩa mới để đảm bảo phục vụ đầy đủ cho giao tiếp bằng con đường chuyển nghĩa của từ mà chưa được các nhà nghiên cứu đưa vào từ điển.

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “ Sự hình thành và biến đổi nghĩa của các từ tiếng Việt trong lời nói ở giới trẻ hiện nay” với 42 từ khảo sát được.

2. Nội dung

2.1. Sự hình thành nghĩa mới của từ đa nghĩa trong lời nói ở giới trẻ hiện nay

2.1.1. Số lượng từ đa nghĩa trong lời nói ở giới trẻ hiện nay

Trong 42 từ chúng tôi khảo sát được, có 18 từ là đa nghĩa, cụ thể đó là: Ngỗng, trứng, gậy, thiếu muối, bựa, sâm, bão, phong bì, chân dài, đít chai, thánh, lề trái, cày, bốc hơi, đào, lồi lõm, cam nắng, bá đạo. Chúng tôi nhận thấy cả 16 từ này đều là những từ chỉ có từ 1 đến 3 nghĩa trong từ điển. Như vậy, những từ đang còn có ít nghĩa sẽ được tiếp tục hình thành nhiều nghĩa hơn để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp của con người:

TT

 

Từ

Nghĩa gốc

Nghĩa chuyển

Nghĩa

Từ loại

Nghĩa

Ví dụ

Từ loại

 

1

Phong bì

 

Bao bằng giấy gấp lại dùng để đựng thư, thiếp,…

DT

Một thứ quà bằng tiền

Tất cả các giám khảo đều đã có phong bì.

DT

2

Chân dài

 

Chiều dài của đôi chân.

DT

 

Những cô gái dáng đẹp, người mẫu hay còn chỉ những cô gái ăn chơi

Hôm nay tổ chức vũ hội chân dài.

DT

3

Lề trái

 

Phía mép trái bên đường có tác dụng bảo vệ đường, thường dành cho người đi bộ.

DT

Những việc làm tiêu cực

Hôm nay hắn ta lại tiếp tục lề trái

DT

4

Bốc hơi

 

Hiện tượng chất lỏng chuyển sang dạng khí, hơi

DT

Biến mất

Mới đó mà cô ta đã bốc hơi đâu mất rồi.

ĐT

5

Bão

 

Gió xoáy trong phạm vi rộng trong một vùng có áp suất không khí giảm xuống rất thấp, thường phát sinh từ biển khơi, có sức phá hoại do gió lớn, mưa to.

DT

Hoạt động tụ tập các phương tiện giao thông để cùng ăn mừng một sự kiện chiến thắng, đua xe hoặc làm loạn một cái gì đó.

Bão like, bão vàng

ĐT

6

Lồi lõm

 

Địa hình không bằng phẳng

ĐT

Thái độ của người này với người kia không bình thường

Cô ta tỏ thái độ lồi lõm với tôi

TT

7

Thiếu muối

 

Hiện tượng nồng độ muối trong máu thấp.

DT

nhạt nhẽo về tính cách

Thằng đó thiếu muối lắm!

TT

8

Bựa

 

Chỉ các chất bẩn bám lâu ngày lên đồ vật

DT

Bẩn thỉu, chơi khăm, chơi bẩn, chơi đểu

Hắn ta rất bựa.

TT

9

Sâm

 

Tên gọi chung một số cây có củ và rễ dùng làm thuốc bổ

DT

Ít, hiếm.

Cái quả này sâm

TT

10

Cảm nắng

 

Một loại bệnh vào mùa hè làm tăng thân nhiệt

DT

Yêu thầm hoặc có cảm tình với một ai đó

Cô đã cảm nắng anh ta

ĐT

11

Bá đạo

 

Chính sách của kẻ dựa vào vũ lực, hình phạt quyền thế mà thống trị ở thời phong kiến Trung Quốc

DT

Vô đối, vô địch, không ai bằng

Hắn ta thật bá đạo

TT

Bảng 1: Số lượng từ đa nghĩa

2.1.2. Sự hình thành nghĩa của từ đa nghĩa trong lời nói ở giới trẻ hiện nay xét về mặt cấu tạo và từ loại

Sự hình thành nghĩa mới của từ đa nghĩa trong lời nói xét về phương diện cấu tạo và từ loại, chúng tôi đã thống kê và phân loại như sau:

Cấu tạo

Số lượng

Tỷ lệ

Từ đơn

9

50%

Từ phức

6

33,33%

Khác

3

16,67%

Tổng

18

100%

Bảng 2: Sự hình thành nghĩa mới của từ đa nghĩa về mặt cấu tạo.

So sánh sự phát triển nghĩa trên bình diện cấu tạo, điều dễ dàng nhận thấy là số lượng nghĩa trong một từ chuyển nghĩa ở từ đơn cao nhất. Nói cách khác, từ đơn có sự phát triển nghĩa mạnh hơn, phong phú hơn.Như vậy, từ đơn là lớp từ không những đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp mà nó còn là bộ phận nòng cốt trong vốn từ tiếng Việt, là lớp từ cơ sở về cấu tạo từ và phát triển nghĩa, làm giàu cho vốn từ dân tộc.

Bên cạnh đó, chúng tôi còn phát hiện ra một hiện tượng đặc biệt của từ trong quá trình biến đổi nghĩa, đó là: Nghĩa gốc vốn do hai từ cấu tạo thành nhưng khi sang nghĩa chuyển thì đó lại là một từ, cụ thể có 3 từ: Chân dài, đít chai, thiếu muối.

 

Danh từ

Động từ

Tính từ

Các từ loại khác

Từ gốc

15

2

1

0

Từ chuyển nghĩa

8

5

5

0

Bảng 3: Sự hình thành nghĩa mới của từ đa nghĩa xét về mặt từ loại

Xét về phương diện từ loại, hiện tượng chuyển nghĩa xảy ra chủ yếu ở danh từ, động từ và tính từ, xếp theo thứ tự từ cao đến thấp.

* Tỷ lệ % chuyển nghĩa giữa các từ theo từ loại ở từ gốc như sau:

          - Danh từ có 15 từ và chiếm 83,33 % trong tổng số từ chuyển nghĩa: Ngỗng, trứng, gậy, thiếu muối, bựa, sâm, bão, phong bì, chân dài, đít chai,thánh, lề trái, cày, cảm nắng, bá đạo.

          - Động từ có 2 và chiếm 11,11 % trong tổng số từ chuyển nghĩa: bốc hơi, đào.

          - Tính từ có 1 từ và chiếm 5,56 % trong tổng số từ chuyển nghĩa: lồi lõm.

Còn các từ loại khác không có từ nào chuyển nghĩa.

* Tỷ lệ % chuyển nghĩa các từ theo từ loại ở từ chuyển nghĩa là:

          - Danh từ có 8 từ và chiếm 44,44% trong tổng số từ chuyên nghĩa: kì đà, bóng đèn, chai, ngỗng, trứng, gậy, cò, lít, củ, phong bì, gấu, chân dài, lề trái, đít chai, thánh.

          - Tính từ có 5 từ và chiếm 27,78% trong tổng số từ chuyển nghĩa: lồi lõm, thiếu muối, bựa, sâm, bá đạo.

          - Động từ có 5 từ và chiếm 27,78% trong tổng số từ chuyển nghĩa: bão, cày, bốc hơi, đào, cảm nắng.

          Trong quá trình khảo sát về sự hình thành nghĩa mới của từ đa nghĩa trong lời nói ở giới trẻ hiện nay trên bình diện từ loại, chúng tôi nhận ra rằng: trường hợp danh từ chuyển sang danh từ là nhiều nhất, có 8 từ; 4 trường hợp danh từ chuyển thành tính từ; 3 trường hợp danh từ chuyển sang động từ; 1 trường hợp tính từ chuyển sang tính từ; 2 trường hợp động từ chuyển sang động từ. Như vậy, có chính xác là 7 từ bị chuyển loại.

2.1.3. Các con đường chuyển đổi ngữ nghĩa của từ tiếng Việt trong lời nói ở giới trẻ hiện nay

Trong 18 từ đã khảo sát được trong thực tế, chúng tôi nhận thấy có 17 trường hợp chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ. Bên cạnh đó, từ chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ chỉ có 1 trường hợp đó là từ chân dài. Đối với sự chênh lệch khá cao giữa con đường chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ, chúng tôi tìm ra được nguyên nhân đó là: Ẩn dụ là phương thức liên tưởng dựa trên sự giống nhau về điểm nào đó giữa các sự vật hiện tượng từ đó từ chuyển tên gọi. Đối với hoán dụ, các nghĩa của từ được chuyển nghĩa theo quy luật liên tưởng tương cận, dựa trên mối liên hệ gần gũi, liên quan giữa các sự vật hay nói về phía sự vật được gọi tên, giữa chúng có quan hệ logic, quan hệ gắn bó có thực. Vậy nên, sự chuyển nghĩa ẩn dụ về nguyên tắc có tính biểu cảm cao hơn so với chuyển nghĩa hoán dụ. Từ đó phương thức ẩn dụ cũng dễ dàng sử dụng hơn là phương thức hoán dụ.

2.2. Sự hình thành nghĩa mới tạo thành từ đồng âm trong lời nói ở giới trẻ hiện nay

2.2.1. Số lượng từ đồng âm trong lời nói ở giới trẻ hiện nay

     Trong 42 từ khảo sát được, có 24 từ là từ đồng âm, cụ thể là: cò, lít, củ, lầy, quẩy, gà, kì đà, bóng đèn, chai, gấu, hàng khủng, sến, cá sấu, bánh bèo,chém, chui, ném đá, thả thính, vãi, hãm, dã man, tàn bạo, chất, tủ. Như vậy, việc hình thành những nghĩa mới để tạo nên từ đa nghĩa có số lượng ít hơn việc hình thành nghĩa mới của từ để tạo ra các từ đồng âm. Cụ thể, số lượng từ đồng âm là 24 từ chiếm 57,14%  tổng số từ chuyển nghĩa. Số lượng từ đa nghĩa là 18 từ chiếm 42,86% tổng số từ chuyển nghĩa.

Nghĩa của từ chuyển nghĩa phát triển dựa trên những quy luật nhất định, trong đó nghĩa tạo ra sau phái sinh từ một nghĩa gốc, hoặc nghĩa chuyển. Điều đó là nguyên nhân làm cho từ khó tách thành từ đồng âm. Nhưng ở đây, chúng tôi lại khảo sát được số từ đồng âm nhiều hơn từ đa nghĩa. Nguyên nhân có hiện tượng này là do các từ đa nghĩa có trong từ điển đang ngưng biến đổi và để đáp ứng nhu cầu giao tiếp dẫn đến hiện tượng sử dụng vỏ ngữ âm vốn có và tạo cho nó một nghĩa mới hoàn toàn không liên quan với nghĩa gốc tức là từ đồng âm.

TT

 

Từ

Nghĩa gốc

Nghĩa chuyển

Nghĩa

Từ loại

Nghĩa

Ví dụ

Từ loại

1

Gấu

 

1.Thú ăn thịt cỡ lớn, đuôi cộc, đi bằng bàn chân, thường trèo cây ăn mật ong.

2. Hung dữ và hỗn láo.

3. Lần vải bẻ gấp lại phía dưới cùng của ống quần hoặc thân áo.

1. DT

2. TT

3. DT

Người yêu

Giờ tớ đã có gấu để ôm rồi.

DT

2

Sến

 

Cây lấy gỗ mọc trong rừng, thân thẳng, lá dài, gỗ có lõi nâu đỏ, thớ mịn, nặng và bền, thuộc loại gỗ quý

DT

Lòe loẹt về hình thức, những ngôn từ quá bóng bẩy ủy mị có nguồn gốc từ tâm lý bắt chước học đòi, sao chép một cách sáo rỗng mà phía sau nó là một sự rỗng toét thiếu thực lực, thiếu nội dung.

Màysến quá đi!

TT

3

Vãi

 

Ném rải ra nhiều phía trên một diện tích nhất định

ĐT

Khi các bạn cực kỳ ngạc nhiên vì điều gì hay gọi chung là “không đỡ được”

Hay vãi

PT

4

Hãm

 

 

1. Cho nước sôi vào chè hoặc dược liệu và giữ hơi nóng một lúc để lấy nước cốt đặc, hay để chiết lấy hoạt chất

2. Làm cho đối tượng lâm vào thế không thể tự do hoạt động, hành động

3. Có tác dụng đem lại vận rủi, làm cho gặp điều không may

1. ĐT

2. ĐT

3. TT

Bản chất con người làm người khác khó chịu

Thằng kia  hãm lắm

TT

5

Tàn bạo

 

Độc ác và hung bạo.

TT

Nhiều lắm, nhiều vô cùng

Xấu tàn bạo

PT

6

Cá sấu

 

Bò sát lớn, tính dữ, hình dạng giống thằn lằn, mõm dài, đuôi khỏe, thường sống ở các song lớn vùng nhiệt đới.

DT

Vẻ ngoài xấu xí. (Thường sử dụng cho con gái)

Lớp tôi có một bầy cá sấu.

TT

7

Bánh bèo

 

Bánh làm bằng bột gạo tẻ xay ướt, đổ vào bát hoặc vào khuôn rồi hấp chín, trên rắc hành mỡ, ruốc tôm, hình giống cánh bèo.

DT

Đỏng đảnh, ra vẻ yếu đuối và hay dựa dẫm.

(Thường dùng cho con gái)

Chả ai ưa cái con bánh bèo kia cả.

TT

8

Chất

 

1. Vật chất tồn tại ở một thể nhất định; cái cấu tạo nên các vật thể.

2. Tính chất, yếu tố cấu tạo nên sự vật

3. Tổng thể nói chung của những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật.

1. DT

2. TT

3. DT

Độc đáo, lạ.

Quần áo nhìn rất chất.

TT

9

Lầy

 

 

Đất bùn nhão thường xuyên ngập nước

DT

Dai dẳng

(Chơi đùa dai, chơi bẩn và dai dẳng)

Chơi lầy vậy

TT

10

Quẩy

 

1. Món ăn làm bằng bột mì vắt thành thỏi dài, rán phồng.

2. Mang đi bằng quang gánh.

1. DT

2. TT

Hoạt động vui chơi thoải mái nhảy nhót, bộc lộ bản thân mình.

Quẩy lên nào!

ĐT

Bảng 4: Số lượng từ đồng âm

2.2.2. Sự hình thành nghĩa mới tạo thành từ đồng âm trong lời nói ở giới trẻ hiện nay xét về mặt cấu tạo và từ loại

Cấu tạo

Số lượng

Tỷ lệ

Từ đơn

15

62,5%

Từ phức

9

37,5%

Tổng

24

100%

Bảng 5: Hiện tượng chuyển nghĩa xét về mặt cấu tạo.

Nhìn số liệu thống kê ở bảng 5, ta dễ dàng nhận thấy rằng từ đơn nhiều hơn từ phức. Như vậy, điều này lại làm rõ thêm sự quan trọng của từ đơn trong vốn từ tiếng Việt đã nêu ở sự hình thành nghĩa mới của từ đa nghĩa đó là: “Từ đơn là bộ phận nòng cốt, là lớp từ cơ sở về cấu tạo từ và phát triển nghĩa”.

 

Danh từ

Động từ

Tính từ

Các từ loại khác

Từ gốc

16

6

2

0

Từ chuyển nghĩa

8

5

8

3

Bảng 6: Hiện tượng chuyển nghĩa xét về mặt từ loại

Xét về phương diện từ loại, sự hình thành nghĩa mới tạo thành từ đồng âm xảy ra chủ yếu ở danh từ, động từ và tính từ, xếp theo thứ tự từ cao đến thấp.

         * Tỷ lệ % chuyển nghĩa giữa các từ theo từ loại ở từ gốc như sau:

          - Danh từ có 16 từ và chiếm 66,67% trong tổng số từ chuyển nghĩa: cò, lít, củ, lầy, quẩy, gà, kì đà, bóng đèn, chai, gấu, hàng khủng, sến, cá sấu, bánh bèo, chất, tủ.

          - Động từ có 6 từ và chiếm 25% trong tổng số từ chuyển nghĩa: chém, chui, ném đá, thả thính, vãi, hãm.

          - Tính từ có 2 từ và chiếm 8,33% trong tổng số từ chuyển nghĩa: dã man, tàn bạo

Bên cạnh đó thì các từ loại khác thì không có từ chuyển nghĩa nào cả.

         * Tỷ lệ % chuyển nghĩa các từ theo từ loại ở từ chuyển nghĩa là:

          - Danh từ có 8 từ và chiếm 33,33% trong tổng số từ chuyên nghĩa: kì đà, bóng đèn, chai, ngỗng, trứng, gậy, cò, lít, củ, phong bì, gấu, chân dài, lề trái, đít chai, thánh

          - Tính từ có 8 từ và chiếm 33,33% trong tổng số từ chuyển nghĩa: gà, chất, lồi lõm, hãm, thiếu muối, bựa, lầy, sâm, sến, hàng khủng, cá sấu, bánh bèo.

          - Động từ có 5 từ và chiếm 20,83% trong tổng số từ chuyển nghĩa: bão, chui, ném đá, cày, chém, bốc hơi, quẩy, đào, thả thính.

          Khác với số lượng ở từ gốc, các từ loại khác có 3 từ và chiếm 12,51% trong tổng số từ chuyển nghĩa: vãi, dã man, tàn bạo.

Trong quá trình khảo sát về sự hình thành nghĩa mới của từ tạo thành từ đồng âm trong lời nói ở giới trẻ hiện nay, về phương diện từ loại, chúng tôi nhận ra rằng: giống với sự hình thành nghĩa mới của từ đa nghĩa đã khảo sát ở trên, trường hợp danh từ chuyển sang danh từ là nhiều nhất, có 8 từ; 7 trường hợp danh từ chuyển thành tính từ; 1 trường hợp danh từ chuyển sang động từ; 1 trường hợp tính từ chuyển sang tính từ; 4 trường hợp động từ chuyển sang động từ; 2 trường hợp tính từ chuyển sang phụ từ; 1 trường hợp động từ chuyển sang tính từ và 1 trường hợp động từ chuyển sang phụ từ. Như vậy, có chính xác là 12 từ bị chuyển loại, nhưng ở đây khác với sự hình thành nghĩa mới của từ đa nghĩa trong lời nói, các sự chuyển loại không có bất kỳ một quy luật nào hết.

2.2.3. Các con đường hình thành nghĩa mới của từ tạo thành từ đồng âm trong lời nói ở giới trẻ hiện nay.

Có những trường hợp các từ được tạo ra do môi trường xã hội, xã hội phát triển ở phương diện nào thì ngay lập tức những sự vật, hiện tượng, khái niệm ở phương diện đó gây ấn tượng mạnh mẽ vào tâm lý con người dẫn đến tình trạng các từ biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm ấy chuyển nghĩa để biểu thị những sự vật, khái niệm trong phương diện khác.

3. Kết luận

Về hiện tượng biến đổi nghĩa của từ trong lời nói hiện nay, trong một thời gian nhất định, chúng tôi đã khảo sát, phân tích, thống kê và từ đó rút ra những kết luận cơ bản sau:

Trước hết phải khẳng định rằng, chuyển nghĩa là con đường quan trọng phát triển vốn từ, góp phần làm phong phú vốn từ tiếng Việt không chỉ về nội dung ngữ nghĩa mà còn tạo ra các đơn vị định danh. Chuyển nghĩa tạo ra các từ đa nghĩa và có thể dẫn đến chuyển loại từ như đã thấy, các con đường chuyển nghĩa đã chứng minh quy luật nội tại và khả năng tiềm tàng trong phát triển vốn từ của tiếng Việt. Đây là một trong những hướng tích cực để phát triển vốn từ của mỗi ngôn ngữ.

Về số lượng nghĩa, đa số những từ bị biến đổi nghĩa trong lời nói hiện nay đều xuất phát từ những từ còn có ít nghĩa. Như vậy là những từ có số lượng nghĩa nhiều đang ngưng biến đổi nghĩa và chúng ta cần sự biến đổi của những từ có ít nghĩa hơn để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp của con người.

Xét về mặt từ loại và cấu tạo từ, so với từ phức, từ đơn là từ phát triển năng động và mạnh hơn. Sự hình thành nghĩa mới của từ tiếng Việt trong lời nói hiện nay chủ yếu xảy ra ở các từ loại là danh từ, động từ, tính từ. Trong đó, danh từ là loại từ  chiếm tỷ lệ cao nhất. Và có một hiện tượng đặc biệt trong hiện tượng biến đổi, hình thành ngữ nghĩa của các từ tiếng Việt trong lời nói đó là: nghĩa gốc vốn do hai từ cấu tạo thành nhưng khi sang nghĩa chuyển thì đó lại là một từ.

Trong lời nói, hiện tượng biến đổi nghĩa của từ chủ yếu được hình thành theo hai phương thức cơ bản là hoán dụ và ẩn dụ. Bên cạnh đó còn phát sinh ra những con đường chuyển nghĩa khác đó là mở rộng phạm vi sử dụng và do hoàn cảnh giao tiếp tạo nên.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đỗ Hữu Châu (Năm 1981) -Từ vựng và ngữ nghĩa tiếng Việt - NXB Giáo dục

[2] Mai Ngọc Chữ, Vũ Đức Nghiêu, Hoàng Trọng Phiến (Năm 208) -Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt - NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội

[3] Nguyễn Thiện Giáp (Năm 1985) - Từ vựng học tiếng Việt - NXB Giáo dục

[4] Nguyễn Thiện Giáp (Năm 2007) -Dẫn luận ngôn ngữ học - NXB Giáo dục.

[5] Google.com.vn


 

Tin mới

Đọc nhiều nhất



Copyright © 2017 Copyright Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Hà Tĩnh Rights Reserved.