foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non
foto1
Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non

+84 0393.885.129
khoasp.thmn@htu.edu.vn
Liên hệ



HÌNH THÀNH PHÂN SỐ Ở TIỂU HỌC TỪ GÓC NHÌN CỦA TOÁN HỌC HIỆN ĐẠI

Lê Trí Dũng

Giảng dạy phương pháp toán tiểu học nói chung và phương pháp hình thành các kiến thức về phân số ở bậc tiểu học cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học cần phải biết kết hợp một cách khoa học giữa các kiến thức toán học hiện đại đến khái niệm kiến thức đơn giản được đưa vào ở bậc tiểu học nhằm giúp sinh viên hiểu đúng bản chất toán học của các kiến thức phân số, từ đó chính xác hóa ngôn ngữ trong giảng dạy phù hợp với học sinh tiểu học cũng như phù hợp với năng lực và khả năng tiếp thu của học sinh. Bài viết này nhằm giúp sinh viên sau khi ra trường có hệ thống phương pháp cũng như chủ động hệ thống kiến thức về phân số ở bậc tiểu học trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu.

(Xin lỗi bạn đọc: do lỗi phần mềm, nên khi đưa lên website Khoa một số hình ảnh và công thức toán học không đọc được, bạn đọc có thể liên hệ với tác giả để đọc bản gốc)

I. Phân số và PPDH phân số

1. Cơ sở toán học

            Khi hình thành số hữu tỉ và tập hợp số thực ta sử dụng tích ZxZ và quan hệ tương đương

            Một phân số là một lớp tương đương.

Ví dụ. Phân số  chính là lớp tương đương

Thực chất các lớp tương đương, là việc hình thành các phân số bằng nhau ở tiểu học, cũng là tính chất cơ bản của phân số, được sử dụng nhiều khi so sánh phân số, cộng trừ phân số. Cụ thể:

2. Phương pháp hình thành

Thông qua trực quan chia đơn vị thành từng phần bằng nhau. Trên cơ sở đó để hình thành số mới đại diện cho các đại lượng cụ thể được sử dụng làm đơn vị và được chia thành cùng số phần bằng nhau: một hình tròn được chia thành 6 phần bằng nhau; một hình vuông được chia thành 6 phần bằng nhau; một đoạn thẳng được chia thành 6 phần bằng nhau… để từ đó lấy ra 5 phần, còn lại 1 phần, khi đó ta được các số mới  là những phân số. Ngoài ra, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh những kiến thức liên qua đến hình thành phân số đã biết trước mà học sinh đã biết đọc biết viết, như: chiều rộng hình chữ nhật bằng một nửa chiều dài hoặc chiều rộng bằng 2 phần 3 chiều dài… Trên cơ sở đó để giới thiệu về phân số, đặc biệt là cấu tạo về phân số, gồm: tử số, dấu gạch và mẫu số.

Hạn chế: sử dụng trực quan để hình thành phân số ở tiểu học có những hạn chế:

+ Ban đầu chỉ đưa ra được những phân số nhỏ thua 1 hoặc dạng mẫu số bằng không học sinh dễ nhầm lẫn, hoặc học sinh nhầm lẫn số tự nhiên không phải là phân số…

II.So sánh phân số

            Giáo viên đưa ra các phương pháp so sánh phân số nhỏ thua 1 tùy thuộc vào kiến thức về phân số. Học sinh được tiếp thu trong quá trình học ở lớp.

+ Đưa các phân số về cùng mẫu số hoặc tử số. Vận dụng tính chất cơ bản của phân số.

+ Khi đã học phép trừ, học sinh so sánh 2 phân số nhỏ thua 1 bằng cách so sánh phân số là phần bù của 1.

Ví dụ. So sánh  ta chỉ cần so sánh

+ Khi học sinh đã học phép nhân, chia phân số, GV hướng dẫn HS tiểu học so sánh 2 phân số bằng cách:

            - So sánh phân số nghịch đảo.

            - So sánh 2 phân số bằng cách sử dụng phép chia 2 phân số đó cho nhau.

Tổng quát: Để so sánh 2 phân số  nhỏ thua 1:

+ Đưa về so sánh các phân số nghịch đảo  là các phân số lớn hơn 1.

+Sử dụng phép chia hai phân số cho nhau để kết quả được một phân số lớn hơn 1 hoặc nhỏ thua 1.

III. Hình thành các phép tính về phân số

            1. Hình thành các phép tính cộng, trừ phân số

            + Cộng, trừ phân số có cùng mẫu số

            + Cộng, trừ phân số khác mẫu số: Sử dụng tính chất cơ bản để đưa về các phân số có cùng mẫu số.

            + Việc thực hiện các phép tính cộng, trừ phân số ở tiểu học thường là các phân số có mẫu số khá nhỏ. Cụ thể, mẫu số là những số có một chữ số. HS tiểu học dễ dàng đưa chúng về cùng mẫu số; ở tiểu học chưa học định lý cơ bản của số học, phân tích một số tự nhiên về tích  của các số nguyên tố (dạng phân tích tiêu chuẩn).

            Khi dạy cho học sinh tiểu học cộng, trừ các phân số khác mẫu số, GV cần hướng dẫn HS tìm ra mẫu số chung, đồng thời biết tìm thừa số để nhân với tử số các phân số có cùng mẫu số.

            2.Hình thành phép nhân, phép chia phân số

            + HS nắm vững quy tắc nhân chia phân số

            + Đưa ra một hệ thống bài tập phù hợp để hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho HS, đặc biệt kết quả của các phép tính đó phải là một phân số tối giản.

            - Thực hiện tối giản từng phân số trước khi tiến hành thực hiện phép nhân, chia phân số.

            - Thực hiện tối giản kết quả sau khi thực hiện phép nhân, chia phân số.

            IV. Hình thành số thập phân

            1. Dựa trên phân số thập phân, đưa về hỗn số, từ đó hình thành cách viết mới trong về phân số.

            + Số thập phân cơ bản:

            + Dựa vào các bài toán thực tiễn về số đo đại lượng, để chuyển về phân số thập phân, hỗn số, để đưa ra số thập phân là một cách viết mới của phân số.

            Ví dụ: 2m7dm = 2m m = 2 m = 2,7m

            Trên cơ sở các bài toán cụ thể, phân tích cho HS nắm được cấu tạo số thập phân gồm: phần nguyên, dấu phẩy và phần thập phân.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thanh Hưng, Phương pháp dạy học môn Toán ở bậc Tiểu học, NXB Giáo dục, 2008.

2. Phạm Đình Thực, Ôn luyện kiến thức và kĩ năng môn Toán tiểu học, NXB Giáo dục, 2010.

3. Nguyễn Tuấn, Thiết kế bài giảng Toán 4, NXB Giáo dục, 2010.

 

 

Tin mới

Đọc nhiều nhất



Copyright © 2017 Copyright Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Hà Tĩnh Rights Reserved.